Sunday, January 27, 2008

Va`i kinh nghie^.m ba'n ha`ng

Vài tháng đi sale, một dạng presale technical, rút ra được vài kinh nghiệm, ghi lại đây để nhớ:

Thứ nhất, phải đi sale trước khi có sản phẩm. Một khi đã nắm bắt được nhu cầu của khách hàng, và có khả năng đáp ứng được nhu cầu đó, thì đã có thể đi quảng bá, marketing và sale được rồi, không cần phải chờ đến lúc sản phẩm được hoàn thiện.

Khi chưa có ai có sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của một thị trường mới, người nào nhanh hơn trong việc gặp gỡ, tìm hiểu nhu cầu, hứa hẹn và tạo niềm tin ở khách hàng, người đó sẽ chiến thắng.

Thứ hai
, chọn lựa một khách hàng duy nhất trong số các khách hàng tìm năng đã gặp gỡ, tìm hiểu ở trên rồi tập trung toàn lực đáp ứng nhu cầu của họ.

Nói cách khác, phải bán được hàng cho một khách hàng đầu tiên. Khách hàng đầu tiên này không nhất thiết phải to bự, nhiều tiền hay nổi tiếng, mà chỉ cần là một khách hàng bình thường, có nhu cầu giống như nhu cầu của các khách hàng tiềm năng khác, quyết tâm hợp tác với ta để xây dựng giải pháp đáp ứng nhu cầu của họ.

Tôi dùng chữ "hợp tác với ta để xây dựng" thay vì chữ "mua" bởi vì trong thực tế, khi bước chân vào một thị trường mới, chúng ta thường không hiểu rõ nhu cầu của những khách hàng trong thị trường này. Có thể chúng ta nắm được những ý chính, nhưng thường chỉ có những người trong ngành mới hiểu hết được những tiểu tiết bên trong. Nói cách khác, chúng ta là những người có khả năng giải toán, nhưng trước hết, cần phải có người đặt ra bài toán.

Cũng có trường hợp ngược lại, bản thân khách hàng họ không biết rõ nhu cầu của họ và chúng ta cần phải tư vấn theo hình thức hợp tác để chỉ ra những vấn đề (nghĩa là nhu cầu) hiện tại trong cách họ sản xuất kinh doanh rồi từ đó đưa ra những giải pháp của chúng ta.

Thứ ba, phải làm cho khách hàng đầu tiên này thật hài lòng, và nếu cần thiết, nên có một chính sách giá/phí ưu đãi cho họ. Trong một thị trường mới, việc có được một khách hàng hài lòng trong portfolio đem lại rất nhiều lợi thế (so với các đối thủ):

  • Khi đã được đáp ứng hết tất cả các yêu cầu, khách hàng này sẽ đi làm PR không công và giới thiệu những khách hàng khác có cùng nhu cầu cho chúng ta.
  • Chứng minh được rõ ràng chúng ta có khả năng và kinh nghiệm trong việc giải quyết những nhu cầu cũng như những vấn đề mà các khách hàng tiềm năng đang có.
  • Tạo cơ sở vững chắc cho hoạt động marketing, pr bởi chúng ta giờ đã "nói có sách, mách có chứng".
  • Và như đã nói ở trên, chúng ta hiểu được bài toán cần giải là gì và nên giải theo cách nào là hợp lý nhất.

Thực tế, bán được một sản phẩm cho khách hàng sẽ mở đường để ta bán được hàng loạt sản phẩm khác. Nói theo cách của một “đại ca”, phải thọc được một chân vào nhà khách hàng trước rồi sẽ có cơ hội chiếm cả ngôi nhà đó. Những sản phẩm đi theo sau, thường là những sản phẩm mang đến nhiều lợi nhuận hơn cả.

Thứ tư, sẵn sàng tấn công các đối thủ, mọi lúc mọi nơi, một cách lộ liễu hoặc “nói bóng nói gió”.

Tôi nghiệm ra rằng, cách tấn công đối thủ tốt nhất, là đóng vai trò tư vấn cho khách hàng, chỉ ra những khiếm khuyết trong các sản phẩm và giải pháp của đối thủ; nên tập trung vào những khiếm khuyết trong những lĩnh vực mà khách hàng không biết (nên họ sẽ sợ). Đừng giả định rằng khách hàng biết tất cả, phải nói và giải thích họ mới biết, bởi họ đâu phải là chuyên gia trong mọi lĩnh vực.

Tôi còn nhớ một trường hợp khá thú vị. Khách hàng nói với tôi, giải pháp của đối thủ B rất hay, chỉ cần đặt một thiết bị tại data center của khách hàng là được, không cần phải làm gì thêm. Tôi trả lời rằng, giải pháp đó, tuy tiện lợi, nhưng không an toàn cho khách hàng, bởi lẽ không ai biết được công ty B có sử dụng thiết bị đó làm backdoor để xâm nhập vào data center của khách hàng hay không. Khách hàng gật gù tán thành, nghĩa là lợi thế của B đã trở thành bất lợi.

Thứ năm, không phải sản phẩm tốt nhất sẽ thắng mà ai marketing, pr và sale tốt nhất sẽ thắng. Phải tổ chức event, xuất hiện trên mặt báo chí thường xuyên và liên tục. Phải kiên nhẫn bám sát khách hàng, kích thích khách hàng mua hàng, hỗ trợ họ mọi lúc mọi nơi khi họ cần sự trợ giúp.

Nói cách khác, phải chiếm được niềm tin và làm cho khách hàng hài lòng.

Saturday, January 26, 2008

Công nghiệp open source?

Bài mang tên "Công nghiệp open source" ở blog Kỹ Thuật Máy Tính có đoạn:

Có người bây giờ vẫn còn thắc mắc với tôi “Open source có kinh doanh được hay không?”. Nếu họ chịu khó đọc tin tức tuần qua, thì sẽ biết câu trả lời ngay thôi:

  • Sun đã mua lại MySQL với giá 1 tỷ đô, một sự kiện được cho là nối tiếp với Citrix mua XenSource, RedHat mua JBoss và Yahoo mua Zimbra.
  • Automattic, nhà phát hành WordPress một open source blogging platform (KTMT đang sử dụng) nhận được 29,5 triệu đô tài trợ từ bốn nhà đầu tư True Ventures, Polaris Ventures, Radar Ventures và New York Times (nhờ vậy, dung lượng host free của wordpress.com đã tăng vọt từ 50MB lên 3GB! Tin rất vui cho các blogger trên wordpress).
  • Greenplum, nhà phát triển phần mềm business intelligence dựa trên dự án nguồn mở Bizgres, nhận được 27 triệu đô đầu tư từ Meritech Capital, Sun và SAP Ventures.
  • Alfresco, phát triển phần mềm quản trị nội dung (CMS) cho doanh nghiệp, nhận được 9 triệu đô đầu tư từ SAP Ventures, Accel Partners và Mayfield Fund.
  • Zenoss, nhà phát triển phần mềm quản lý hạ tầng IT cho doanh nghiệp, nhận được 11 triệu đô từ quỹ đầu tư dẫn đầu là Grotech Capital.
  • Openads, một máy chủ quảng cáo trực tuyến open source, nhận được 15,5 triệu đô đầu tư từ quỹ tài chính dẫn đầu bởi Accel Partners.
  • Acquia, chuyên phát triển giải pháp xung quanh Drupal, một nền tảng mã nguồn mở cho web collaboration and publishing (tôi hiện đang dùng làm công cụ quản lý tài liệu cá nhân), nhận được 7 triệu đô từ quỹ đầu tư dẫn đầu bởi North Bridge Venture Partners.

Ngay từ đầu năm, thị trường Open source đã nóng lên. Những vụ giao dịch, đầu tư trên cùng với sự kiện Microsoft, được xem là đối thủ lớn nhất của cộng đồn Open Source, tuyên bố đang “open for business“, cho thấy thế giới đã không còn băn khoăn gì về chất lượng cũng như tính “Free” của Open source nữa, các nhà đầu tư đã quan sát, tìm hiểu khá lâu, và bây giờ chính thức vào cuộc một cách ồ ạt.

Tôi thấy trong danh sách mà Thao, tác giả bài viết, đưa ra, không có cái nào chứng minh là "open source có thể kinh doanh".

Tôi nghĩ nếu muốn chứng minh rằng "open source có thể kinh doanh" thì phải đưa ra được những ví dụ chứng tỏ, khách hàng, chứ không phải nhà đầu tư, chịu bỏ tiền ra mua sản phẩm open source.

Đồng ý rằng việc thu hút được đầu tư và nhất là bán được toàn bộ công ty cho một "đại gia" cũng là một cách làm ra tiền (đối với người chủ của công ty), nhưng đó không phải là cách kinh doanh.

Vả lại, đa số các công ty mà Thao đưa ra, đều không kinh doanh sản phẩm open source, kiểu như Red Hat (hầu hết sản phẩm của Red Hat đều là open source), mà họ kinh doanh một phiên bản closed source có nhiều tính năng và được hỗ trợ tốt hơn phiên bản open source, vốn được sử dụng như một công cụ marketing và pr.

Đương nhiên marketing và pr là cần thiết cho bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, nên đóng góp của phiên bản open source vào thành công của các công ty kể trên, là rất đáng kể. Nhưng vẫn phải khẳng định rằng, họ không kinh doanh các phiên bản open source. Thậm chí, Alfresco, Zenoss, Zimbra hay MySQL cũng không cung cấp dịch vụ hỗ trợ cho các phiên bản open source hay community version của họ. Đó là chưa nói, license phiên bản open source của một vài công ty như Zimbra (tôi không có thời gian kiểm tra hết) vẫn chưa được OSI xác nhận.

Thuần túy kinh doanh sản phẩm open source thường là thế này:
  • Chỉ có một code base duy nhất
  • Cung cấp toàn bộ source code
  • License được OSI xác nhận
  • Bán optimized binary version
  • Bán dịch vụ support bao gồm training, customization, bug fix, upgrade, SI, maintainance...
Trước giờ tôi thấy chỉ có mỗi Red Hat là thành công trong việc thuần túy kinh doanh sản phẩm open source. Còn các công ty khác, như đã nói ở trên, thường sử dụng open source để "câu khách" rồi bán sản phẩm chủ lực closed source.

Thursday, January 17, 2008

Ba'o tie^'p tu.c chuo^'i

Hôm nay đọc được bài "Những người tìm kiếm đáng gờm" trên Thanh Niên:

Từ "rác công nghệ"...

...Có mấy anh chàng mới học lớp 11 ở Hà Nội, nghe phong thanh ở đâu có tiệm internet nào thanh lý hoặc máy tính cũ quá "đát" là lần mò tìm tới. Trong cái đám rác công nghệ đó, có những thứ đã quá lạc hậu, có thứ thì hoạt động tậm tạch, thứ thì đã "chết" ngỏm từ đời nào rồi. Mấy chàng xin, mà nếu chủ không cho thì mua lại với giá bèo, rồi mang về nhà, chất đống quanh giường ngủ. Cái nào chạy được thì dùng, cái nào hỏng thì kỳ cạch sửa cho dùng được mới thôi. Nhìn đám máy móc ngổn ngang khắp nền nhà, và cả... vắt vẻo trên tường, có lẽ không ai gọi đó là máy tính. Nhưng với những cậu học sinh ấy, có máy "ghẻ" mà thỏa chí mày mò cũng đã sướng lắm rồi. Năm 1998, khi tiếp xúc với Google - một trang web tìm kiếm thuộc vào hàng "khủng long" - Nguyễn Quang Huy đã nung nấu ý định làm ra một trang web tìm kiếm dành cho người Việt đủ sức cạnh tranh với Google tại thị trường Việt Nam. Và nhóm Monova, gồm những người bạn thân có chung mục tiêu ấy, đã ra đời từ những ngày khó khăn như thế.

Sau một thời gian mày mò, đến năm 2003, chương trình đã chạy ngon lành tại nhà. Sau thêm 3 năm hoàn thiện, năm 2006, Quang Huy nghĩ tới việc phải tìm nhà đầu tư để có thể phát triển hơn nữa. Anh chàng đã gõ cửa nhiều quỹ đầu tư, nhiều doanh nghiệp, nhưng tới đâu cũng chỉ nhận được cái lắc đầu hoài nghi: "Cậu điên rồi. Định cạnh tranh với ai, chứ cạnh tranh với Google thì sao nổi!". Tháng 12.2006, khi biết anh Hoàng Quốc Việt, Tổng giám đốc Nguyễn Hoàng Group ra Hà Nội công tác, Quang Huy tìm cách gặp, vừa trình bày bản demo, vừa thuyết trình. "Đây là người đầu tiên chịu ngồi nghe mình từ đầu đến cuối. Sau đó anh Việt có mời Huy vào Sài Gòn tham quan công ty. Và anh Việt đã chính thức đầu tư từ 4.2007, số tiền 500.000 USD cho giai đoạn 1" - Quang Huy cho biết. Nhờ có số tiền này mà nhóm đã nâng cấp thiết bị, để ngày 15.7.2006 bản thử nghiệm đã được đưa lên website cho cư dân mạng dùng thử và đánh giá. Và tháng 12.2006, ngay khi phiên bản chính thức ra đời, website này đã thu hút trên 20.000 người sử dụng.

Có cần thiết phải viết theo kiểu "cô bé lọ lem ngoan hiền xinh đẹp gặp được hoàng tử giàu có đẹp trai" như thế này không? Viết báo mà coi thường đọc giả, xem đọc giả là con nít, thích nghe chuyện cổ tích không có thật như thế này thì thiệt là hết nói.

Hehe, bồ 3do, bên ddth.com, nhại lại bài viết trên khá vui:

Ít có người biết rằng từ năm 1998, Huy đã thu thập được hàng tấn bom, mìn, lựu đạn trong những "đợt xin rác công nghệ". Anh đã đi gõ cửa các nơi để xin đặt bom nhưng điều bị từ chối. Cuối cùng, vào cuối năm 2006, Huy đã gặp được Việt. Nhận thấy tìm năng của đống bom mìn có khả năng nổ banh nhà lồng chợ, cả hai đã hợp tác và lên kế hoạch nâng cấp, sửa chữa kho đạn mà Huy thu thập.

Ngày 13/1/2008 là một ngày kinh hoàng, quả bom tấn tên gọi Monava do Huy chế tạo được kích hoạt từ tòa soạn báo Thanh niên và tiếng nổ lan rộng ra khắp thế giới làm hàng trăm người té ghế, hàng ngàn người bị sặc.

Hôm nay báo Tuổi Trẻ cũng có đăng bài về cái vụ Monava này, với tựa đề khá sốc Monava: "Google Việt" hay tầm gửi?. Tuổi Trẻ có một điều rất thú vị, mà nếu ai quan sát kỹ sẽ thấy, đó là họ thường hay đăng những bài có nội dung trái ngược nhau. Bài viết mới này so với bài cũ Bùng nổ cỗ máy tìm kiếm tiếng Việt là một ví dụ điển hình.

Tuy cách đặt vấn đề của Tuổi Trẻ, như anh Châu Hồng Lĩnh chỉ ra, còn nhiều chỗ chưa hợp lý, nhưng bài báo này vẫn chứng minh rằng, Tuổi Trẻ biết lắng nghe ý kiến của đọc giả. Đây là sự khác biệt lớn của Tuổi Trẻ so với các tờ báo khác ở VN.

Vấn đề còn lại là Tuổi Trẻ, hay bất kỳ tờ báo nào khác, trước khi đăng tải những bài báo về khoa học - công nghệ - kỹ thuật hay bất kỳ lĩnh vực đòi hỏi chuyên môn cao, phải luôn lắng nghe, tham khảo ý kiến của chuyên gia có uy tín trong lĩnh vực đó.

Các chuyên gia chưa bao giờ dành công việc viết báo của các nhà báo, nhưng có vẻ như một số nhà báo luôn tự tin nghĩ rằng họ đủ chuyên môn để làm thay công việc của các chuyên gia.

Wednesday, January 16, 2008

Bu`ng hay..."no^?"?

Sự bùng nổ các cỗ máy tìm kiếm tiếng Việt cũng như các dịch vụ trực tuyến là một dấu hiệu đáng mừng của nền CNTT nước nhà. Một vài ý kiến cho rằng, không bao lâu nữa, những Monava, TìmNhanh, VinaSeek, Zing…sẽ đánh bại các “đại gia” như Google hay Yahoo!. Tôi cho rằng họ đã quá lạc quan.

Ngộ nhận

Cả thế giới đang tiến vào kỷ nguyên toàn cầu hóa và VN cũng không thể nằm ngoài trào lưu này. Sự ảnh hưởng của Google và Yahoo! từ lâu đã vượt ra ngoài biên giới của nước Mỹ. Những sản phẩm chủ lực của Google và Yahoo! như tìm kiếm, email, nhắn tin…không dành riêng cho bất kỳ một quốc gia nào, mà được sử dụng chung trên toàn thế giới. Do đó không thể nói rằng, Google hay Yahoo! kô quan tâm đến những thị trường nhỏ lẻ như VN. Sự thật là họ quan tâm đến cả thế giới.

Chưa có con số thống kê chính thức, nhưng tôi tin rằng hơn 90% người sử dụng Internet ở VN tìm kiếm thông tin trên Google, trò chuyện bằng Yahoo! Messenger, và viết blog, kết bạn bằng Yahoo! 360.Google và Yahoo! từ lâu đã thống trị VN, bởi đơn giản những sản phẩm của họ đáp ứng được yêu cầu của người sử dụng VN (và cả thế giới).

Các sản phẩm của Google hay Yahoo! đã trở thành một thành phần không thể thiếu trong đại bộ phận người dùng Internet VN. Chúng đã trở thành thói quen, thành một phần của cuộc sống hàng ngày. Cứ nhìn vào phản ứng của người VN mỗi khi Yahoo! Messenger bị lỗi là rõ.

Thay đổi thói quen của một người đã khó, thay đổi thói quen của hàng triệu người là gần như không thể. Đó là chưa bàn đến vốn - công nghệ - con người.

Mọi sự so sánh giữa một công ty VN với Google hay Yahoo! đều khập khiễng đến lố bịch. Do đó, tôi chỉ tập trung vào một mảng nhỏ mà các công ty tìm kiếm VN thường đưa ra như là một lợi thế của họ so với Google hay Yahoo!, đó là khả năng xử lý ngữ nghĩa tiếng Việt.

Các công ty VN cho rằng họ hiểu tiếng Việt còn Google hay Yahoo! thì không, nên họ có thể giúp người dùng VN tìm kiếm các thông tin tiếng Việt hay hơn. Có hai vấn đề cần bàn rõ về, tôi cho là, ngộ nhận này.

Thứ nhất, hiểu tiếng Việt là một chuyện, dạy cho máy tính hiểu tiếng Việt lại là một chuyện hoàn toàn khác. Chúng ta đều biết, cái thứ hai khó gấp nhiều lần. Phân tích và hiểu ngữ nghĩa một ngôn ngữ phức tạp như tiếng Việt là điều nói dễ hơn làm. Nói lúc nào cũng rẻ. Trong quá trình tìm kiếm tư liệu cho bài viết này, tôi đã thử tìm kiếm các công trình nghiên cứu về đề tài “dạy máy tính hiểu tiếng Việt”, nhưng kết quả thu được là rất ít. Sự thật là cho đến nay, chưa có công ty hay trường đại học, viện nghiên cứu ở VN và trên thế giới phát minh ra được một công cụ phân tích tiếng Việt hiệu quả.

Thứ hai, các cỗ máy tìm kiếm không cần phải hiểu tiếng Việt mới có thể tìm kiếm được thông tin cho người Việt. Bản thân người viết bài này rất ít khi tìm kiếm thông tin tiếng Việt trên Google. Tôi sử dụng Internet để tìm kiếm, tra cứu thông tin từ nước ngoài nhiều hơn là trong nước. Nhìn vào danh sách các từ khóa liệt kê trong dịch vụ Google History, hơn 95% các từ khóa của tôi là tiếng Anh. Con số 95% này không có gì quá ngạc nhiên, bởi hầu hết tri thức trên Internet đều được viết bằng tiếng Anh.

Hướng đi cho tương lai

Tôi đánh giá rất cao ý kiến của ông Nguyễn Hồng Trường, giám đốc phát triển kinh doanh và công nghệ Quĩ đầu tư IDG Ventures Vietnam, khi cho rằng, “xét về tìm kiếm chung chung (thông tin trên mạng, trang web...), Google vẫn là số một, nhưng nếu xét theo tìm kiếm chiều dọc, các cỗ máy tìm kiếm của Việt Nam hoàn toàn có thể cạnh tranh".

Tìm kiếm nhạc, phim, hình ảnh là một hướng đi có triển vọng. Baidu, công ty tìm kiếm bản địa duy nhất trên thế giới có thể cạnh tranh với Google và Yahoo!, tập trung vào tìm kiếm nhạc. Hiện tại cũng có khá nhiều cỗ máy tìm kiếm nhạc ở VN, như Zing, Baamboo, 7Sac…

Tuy nhiên, tôi cho rằng tìm kiếm nhạc là một bước đi mạo hiểm, nhiều rủi ro. Sở dĩ Google hay Yahoo! không đẩy mạnh mảng tìm kiếm nhạc là vì vấn đề bản quyền (Baidu được sự hậu thuẫn của chính phủ Trung Quốc nên mặc dù có bị kiện, nhưng họ vẫn thắng). Hầu hết những công ty VN làm trong mảng tìm kiếm nhạc đều chưa có sự chuẩn bị cho vấn đề bản quyền cam go này.

Chỉ có thể đánh bại Google và Yahoo! nếu biết khai thác đúng lợi thế cạnh tranh. Google, Yahoo! chưa có nhiều thông tin bản địa của VN, cụ thể là những thông tin liên quan đến địa điểm và bản đồ. Google có dịch vụ Google Local để tìm kiếm địa điểm và bản đồ, nhưng họ không có phiên bản dành riêng cho VN. Đây chính là cơ hội cho các cỗ máy tìm kiếm VN.

Thử tưởng tượng có một dịch vụ, chỉ cần nhập vào từ khóa “phở quận 1” là trả về ngay danh sách các quán phở, kèm giá cả cũng như đánh giá của người dùng. Còn gì tiện lợi hơn?

Monday, January 7, 2008

Báo...chuối

Không ngày nào mà tôi không đọc báo. Sáng là đọc Tuổi Trẻ, online thì đọc VnExpress, rồi Thanh Niên hay mấy tờ nước ngoài như BBC, CNN...Đọc riết thấy báo của VN mình càng lúc càng tệ, tin tức không nhiều, bình luận không sâu sắc còn có thể thông cảm được, nhưng mà tràn ngập PR ngu xuẩn là chuyện không thể chấp nhận được. Tôi trả tiền và bỏ thời gian để đọc tin tức và bình luận, chứ không phải để xem những mẩu quảng cáo dốt đặc và vô trách nhiệm.

Thuộc hàng đại trơ trẽn trong lĩnh vực PR chắc hẳn là thằng Thanh Niên. Ví dụ như hôm nay Thanh Niên có đăng bài Xu hướng trở thành ngân hàng bán lẻ. Do làm trong lĩnh vực ngân hàng, nên tôi cũng tranh thủ đọc thử xem nó nói về các ngân hàng thế nào. Rốt cuộc từ đầu đến cuối, chỉ chăm chăm Sacombank. Mù cũng biết bài này là sản phẩm sau khi các bác PR bên Sacombank đã nhét vài triệu vào mồm của tay phóng viên Nam Bình. Mẹ kiếp, nó cứ ghi là Sacombank: ngân hàng bán lẻ đi, để tôi khỏi phải hi vọng vào một bài phân tích có giá trị.

Một ví dụ khác về sự lố bịch của Thanh Niên là bài,
123mua! xếp hạng 2 trong các website thương mại điện tử uy tín năm 2007. Đọc cái tựa thôi là tôi thấy kỳ rồi, sao không nói về thằng hạng nhất, mà lại giới thiệu thằng hạng hai chi trời? Từ đầu bài đến cuối bài, toàn 123Mua!, tuyệt nhiên chẳng có bất kỳ thông tin nào về thằng đứng đầu. Haha tôi nghĩ, chắc thằng đứng đầu nó lo chạy PR ở báo khác rồi. Dẫu sao thì bài này nó còn đỡ, bởi nó lộ liễu hơn, chẳng phải lừa đảo như bài ở trên.

Không chỉ hai cái bài này, còn rất nhiều bài khác, mà đặc biệt là các bài trong mục CNTT của Thanh Niên, 10 bài hết 6-7 bài là rặt PR, chẳng mang lại chút thông tin hay bình luận gì cả. Mai mốt thất nghiệp, chắc xin vào làm phóng viên CNTT của Thanh Niên quá, vừa giàu sụ mà lại thảnh thơi nữa, cứ mỗi ngày nhét vào mồm vài triệu, rồi chờ cho đám PR nó ị ra một hai bài viết, gửi lên báo lấy thêm nhuận bút.

Anh Tuổi Trẻ thì ít, nhưng mà không phải là không có. Ví dụ như hôm rồi, có bài Bùng nổ cỗ máy tìm kiếm tiếng Việt, rõ ràng là quảng cáo cho thằng Monova - Ma Nó Vô. Chị bạn PV ở Tuổi Trẻ có hỏi ý tôi về thằng Monova này và tôi cũng đã nói rõ là nó chỉ dừng lại ở mức sử dụng lại Google mà thôi. Chị bạn đã không viết (đó mới là nhà báo chân chính, cảm ơn những người như chị), nhưng rốt cuộc có một tay PV khác viết, và rồi được đăng.

Ngay sau đó, một loạt các tờ báo khác, tiếp tục đăng tải các bài viết hình ảnh về Monova, với những lời lẽ kiểu như, "cạnh tranh với Google là điều không thể tránh khỏi", "thắng Google trên sân nhà" blah blah blah...Má ơi, không biết khi nhận đăng những bài như thế, mấy tay nhà báo có thử tìm hiểu xem thằng Monova nó hoạt động thế nào không?

Từng anh dốt và vô trách nhiệm chưa đã, đồng loạt các báo VN vẫn thường hay tự sướng tập thể (do copy bài lẫn nhau mà).

Chẳng hạn như đồng loạt các báo đưa tin, robot Việt hạ người chơi bóng bàn, mặc dầu sự thật là con robot này đánh trật nhiều hơn đánh trúng.

Rồi như mới đây, đồng loạt các báo lại đưa tin, Nguyễn Minh Trí: gương mặt doanh nhân trẻ xuất sắc nhất Châu Á. Mới đầu đọc tin này, tôi thấy bất ngờ và tin sái cổ. Nhưng rốt cuộc đọc kỹ lại, thì thấy rằng:

Theo thông lệ hằng năm, tạp chí BusinessWeek sẽ chọn ra 25 gương mặt doanh nhân trẻ xuất sắc nhất, sau đó tiến hành lấy ý kiến qua website điện tử của mình. Kết quả này được công bố vào ngày 2-1, sau hơn một tháng lấy ý kiến độc giả. Đây là lần đầu tiên vị trí số 1 của cuộc bình chọn doanh nhân trẻ xuất sắc nhất châu Á thuộc về đại diện của VN.

Tôi nhớ không lầm thì cách đây 1-2 năm, cũng có một ông "doanh nhân trẻ" nào đó của VN lọt vào cái top 25 này. Vấn đề cốt lõi là, thường người ta chỉ biết đến các ông này khi ông lọt vào danh sách, còn trước đó, chẳng ai biết các ông là ai. Nếu các ông có thực tài, đang sống và làm việc ở VN, thì có cần phải đợi một tạp chí nước ngoài vinh danh mới được người trong nước biết đến?

Tôi không biết cái tập chí Business Week này dựa vào đâu để chọn ra top 25 người ban đầu, nhưng tìm hiểu kỹ hơn một chút, tôi thấy cái vụ lấy ý kiến này khá khả nghi. Rốt cuộc thì ông "doanh nhân trẻ" này đã vận động người khác bầu chọn cho mình. Như vậy vẫn chưa có gì chắc chắn ông "doanh nhân trẻ" này có thực tài hay không. Riêng tôi thì rất nghi ngờ vào sự trung thực cũng như bản tính "đánh lận con đen" của ông này.

Tại sao những chuyện đơn giản như thế mà các tay nhà báo không phát hiện ra? Phải chăng là do tiền, thói quen sính ngoại (hay hội chứng nhược tiểu) và sở thích tự sướng?

Để trả lời những thắc mắc này, tôi làm một thí nghiệm nho nhỏ. Trong danh sách 25 người của Business Week, tôi lấy ra thông tin của 4 người đứng đầu, và thử tìm trên Google xem có bao nhiêu tin tức về việc họ đoạt giải.

Với mỗi người, tôi sử dụng keyword là họ tên + cụm từ "Business Week", thực hiện 2 query, với query đầu search trên toàn Internet, còn query thứ 2 chỉ search những website xuất phát từ quốc gia tương ứng của họ. Không quá bất ngờ, kết quả như sau:

Nguyễn Minh Trí - Việt Nam

- Query 1: 13.100 kết quả.

- Query 2: 643 kết quả.

Saloni Malhotra - Ấn Độ

- Query 1: 260 kết quả.

- Query 2: 2 kết quả.

Ari Sudradjat - Indonesia

- Query 1: 159 kết quả.

- Query 2: 0 kết quả.

Leon Ho - HongKong

- Query 1: 2400 kết quả.

- Query 2: 1 kết quả.

Tôi nghĩ những con số này đủ chứng minh kết luận của tôi về báo chí VN là hoàn toàn có cơ sở. Đúng là báo chuối!

The world is NOT flat

Tối qua, ngồi xem buổi trao giải Trí Tuệ Việt Nam 2007 mà thấy khinh hết sức những kẻ tổ chức cái buổi trao giải này. Không bàn đến những tiết mục văn nghệ cao siêu, mà chắc do khả năng cảm thụ nghệ thuật của tôi thấp nên kô hiểu nổi, tôi chỉ muốn nhắc đến cụm từ "Thế giới phẳng" xuất hiện trong cái slogan của cuộc thi và cũng là đề tài xuyên suốt của cả buổi trao giải.

Nhắc lại một chút về cụm từ "Thế giới phẳng" này. Cụm từ này xuất phát từ cuốn sách bestseller "The World Is Flat" của Thomas Friedman. Cuốn sách này bàn về toàn cầu hóa, cách thức toàn cầu hóa diễn ra, những yếu tố thúc đẩy toàn cầu hóa cũng như những gì (nước Mỹ và người Mỹ) cần phải làm để thích nghi trong thời đại toàn cầu hóa.

Theo Friedman, một trong những yếu tố chính thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa, là ngành công nghệ thông tin, mà cụ thể là Internet và các phần mềm nguồn mở. Phải chăng đây là lý do mà các bác nhà ta mới đem cái cụm từ "Thế giới phẳng" này đặt lên "bàn thờ" của cuộc thi TTVN 2007, với dụng ý rằng, àh thì các sản phẩm của TTVN 2007 sẽ làm cho thế giới phẳng? Hay ngược lại, các bác nhà ta muốn ám chỉ rằng, nhờ thế giới phẳng nên mới có TTVN 2007 và các sản phẩm dự thi?

Mặc kệ lý do là gì, điều nực cười ở đây là, thế giới chưa bao giờ phẳng. Joseph Stiglitz, nhà kinh tế học người Mỹ đoạt giải Noel năm 2001, khi được hỏi thế giới có phẳng hay không, đã trả lời như sau:
Not only is the world not flat, but also there is growing inequality around the world, and there is a growing gap between the rich and the poor. The world is becoming less flat as that inequity grows. One way to think about globalization is simply the lowering of transport and communications costs. As we become more interdependent we need to solve together a whole host of problems. If the world is going to do it, we should do so in a way that reflects our fundamental values: democracy, fairness, respect for the individual, concern for the poor. Unfortunately, the way the United States has been exercising leadership in the area of globalization has not been consistent with those values.
Hiện tại tôi phải trả mỗi tháng gần 1 triệu để mỗi ngày gọi năm, mười phút cho bạn gái ở Singapore. Nếu thế giới phẳng, tất cả cuộc gọi của tôi sẽ là cuộc gọi nội hạt, hoặc ít ra sẽ là cuộc gọi VoIP, đi qua Internet, biến thành gọi nội hạt, với giá thấp hơn rất nhiều. Hơn nữa, như Pankaj Ghemawat, viết trong "Why the World Isn’t Flat":
Ninety percent of the world's phone calls, Web traffic, and investments are local, suggesting that Friedman has grossly exaggerated the significance of the trends he describes. "Despite talk of a new, wired world where information, ideas, money, and people can move around the planet faster than ever before, just a fraction of what we consider globalization actually exists".
Vả lại, thế giới làm sao phẳng được, khi Mỹ, anh cả, thuyền trưởng của con thuyền toàn cầu hóa, sau một đêm, chia thế giới ra làm hai, một bên theo Mỹ, một bên theo khủng bố?

Đừng nói chi xa xôi ở tầm thế giới, ngay cả VN cũng chưa bao giờ phẳng. Có ai dám chắc rằng, một người sinh ra ở miệt rừng núi Tây Bắc sẽ có cơ hội ngang bằng để phát triển với một người sinh ra ở Tp.HCM? Đó cũng là lý do người ta đổ xô về Tp.HCM sinh sống, cũng như tâm lý xem việc định cư ở Mỹ và Châu Âu là cơ hội đổi đời.

Một vấn đề khác xâu xa hơn, liệu toàn cầu hóa có thực sự đem lại lợi ích cho những quốc gia kém phát triển như VN, cụ thể hơn là những người nghèo? Những bà con cô bác, đi lấy rác thuê, vừa bị tước đi công cụ lao động, được hưởng lợi ích gì từ toàn cầu hóa?

Vấn đề cuối cùng, "The World Is Flat" chẳng qua là một conventional wisdom, được Thomas Friedman đưa ra để biểu thị cho những ý tưởng về toàn cầu hóa của ông ấy. Có nực cười không khi trong một cuộc thi công nghệ, người ta lại "thờ" một conventional wisdom mà tính đúng đắn là nhiều dấu hỏi lớn?

Xóm Đẻ - Câu chuyện bên bàn nhậu

Tặng các bạn của tôi, những người đã xuống đường vào ngày 09/12/2007.

Cả đám đang ngồi nhậu, tự nhiên nghe tiếng "rốp rốp" của kim loại bị bẻ gãy vang rền. Chợt có người la thất thanh, xe hàng cán chết người rồi! Trời có người bị kẹt dưới xe kìa! Chiếc xe honda bị cán bẹp dí luôn rồi!

Thằng Cù Sinh la lên, ghê quá, đừng coi tụi bây ơi, coi rồi sao nhậu, tối về bị ám ảnh nữa. Thằng Tô Hùng với thằng Thái dúi cũng tán thành. Má, coi mấy vụ này ghê thấy mẹ, về hết ăn cơm luôn, nói chi là nhậu.

Hai thằng chưa dứt hết lời, nhìn qua nhìn lại, thấy thằng Bông với thằng Quang pô đã biến mất tiêu. Hai thằng nó dzọt cái vù, hòa nhanh vào đám đông vừa hình thành, vây xung quanh chiếc xe hàng gây nạn.

Thằng Cù Sinh, thằng Thái dúi với thằng Tô Hùng chuyển đề tài sang các vụ tai nạn chết người mà tụi nó có lần chứng kiến. Câu chuyện nào cũng rùng rợn hết trơn, chỉ toàn là óc, máu và ruột người.

15' trôi qua, vẫn chưa thấy thằng Bông với thằng Quang pô quay về. Má, hai thằng quỷ này nhiều chuyện thấy sợ, đụng xe thì có đếch gì mà coi trời! Thằng Tô Hùng chửi rồi tiếp tục mô tả về cảnh ông hốt xác dùng tay vóc từng mảng óc của người bị xe cán chết, mà nó từng chứng kiến ở chân cầu Tân Thuận, với khuôn mặt vẫn còn chút hãi hùng.

5' trôi qua, thằng Bông lững thững đi vô. Sao mậy, có ai chết không? Đâu có ai chết đâu, có một thằng bị thương ở chân, thấy máu chảy nhiều, nó hơi ngáp ngáp thôi, nhưng không có bị "xịt chao". Má thằng này hên thiệt, đếch hiểu sao mà chiếc xe của nó bị cuốn vào bánh sau, bẹp dí, mà nó vẫn còn thở được.

Các giả thuyết bắt đầu được đưa ra. Òh thì chắc có ai đó nhanh tay kéo nó ra, hay là lúc té, nó văng ra ngoài, còn chiếc xe thì bị vướng vô trong? Thôi, kệ mẹ nó, vô cái đi, mừng thằng đó thoát chết!

Ủa còn thằng Quang pô đâu, mày có thấy nó không? Ai biết đâu, người ta bu đông nghẹt àh, không thấy nó đâu hết. Hồi nãy tao thấy nó chạy ra chỗ cái xe hàng, rồi tự nhiên hớt ha hớt hải chạy vô toilet, rồi lại chạy ra đó tiếp. Chắc nó thấy ớn quá, nên chạy vô toilet ói rồi chạy ra coi tiếp quá. Thằng Cù Sinh vừa nói vừa ực hết ly bia.

10' sau, thằng Quang pô quay trở lại. Quần áo dính đầy máu.

Ủa, mày làm gì mà máu không vậy?

Trời, tao nhào vô kéo thằng đó ra, cởi nút quần cho nó. Má, phải cởi nút quần cho nó dễ thở, tao sợ quần chật quá nó không thở được. Đang lum khum, hai thằng kia nó bưng thằng bị đụng lên, làm máu dính đầy quần áo với tay chân luôn, ghê bỏ mẹ. Tao phải chạy vô rửa tay rửa chân, má rửa cả buổi mới hết.

Má mày rảnh quá ha, tự nhiên đi làm chuyện bao đồng?

Phước đức lắm đó ba. Má đây là cái phước ông trời ổng quăng vô tay, ổng kêu mình làm, thì mình phải làm thôi.

Rủi mày nhào vô cởi quần cho nó, người ta nói mày chôm tiền của nó thì sao?

Kệ mẹ, người ta nghĩ sao thì nghĩ, mình làm chuyện đàng hoàng ngay thẳng thì đếch sợ thằng nào. Có biết bao nhiêu cặp mắt nhìn vào mà, lo gì.

Ủa rồi tao thấy mày chạy vô toilet rồi chạy ra tiếp chi vậy?

Tao chạy ra coi có ai chở nó đi nhà thương chưa, nếu chưa thì tao chở nó đi. Có người chở rồi, cái thằng hô hấp nhân tạo nó chở luôn, tao cứ tưởng là nó đi chung với thằng bị đụng, ai dè nó cũng chỉ là người đi đường.

Chẳng biết do bia hay những lời nói rất chân thật của thằng Quang pô chưa học hết lớp 9, mà thằng Thái dúi thấy choáng váng quá. Sao mà thằng Quang nó nói những chuyện này nhẹ như không, không một chút e dè, lo lắng hay do dự? Còn nó, sao bao nhiêu năm ăn học những điều hay lẽ phải, lại quá lo sợ đến nỗi quên mất chuyện cần phải làm?

Nó sợ thấy cảnh chết chóc, mặc dù không có ai chết, chỉ có những người sắp chết chờ được cứu. Nó sợ bị người nhà của nạn nhân, lầm tưởng nó là người gây tai nạn, đánh cho tơi bời. Nó sợ công an sẽ yêu cầu nó làm nhân chứng, rồi phải phiền phức đi tới đi lui. Bao nỗi sợ hãi mơ hồ bao trùm, đến nỗi chuyện đơn giản nhất, là gọi công an báo có tai nạn, mà nó cũng quên mất, đừng nói chi đến chuyện cứu người.

---

Phải chăng, người ta không dám đi biểu tình phản đối TQ chiếm Hoàng Sa - Trường Sa, một chuyện nên làm của bất kỳ người VN nào, cũng vì những nỗi sợ hãi mơ hồ như trên? Sợ bị bọn phản động lôi kéo (tôi sẽ bàn về hai chữ "phản động" này sau), sợ bị công an điểm mặt chỉ tên, sợ bị đàn áp? Có thật không? Hay chúng chỉ là những cái cớ, để có thể nhắm mắt làm ngơ những chuyện nên làm, bỏ mặc trách nhiệm của một người đang sống?

Chợt nhớ
một đời người, một rừng cây của Trần Long Ẩn.

Ai cũng chọn việc nhẹ nhàng, gian khổ sẽ dành phần ai!


Ai cũng một thời trẻ trai, cũng từng nghĩ về đời mình

phải đâu "may nhờ rủi chịu", phải đâu "trong đục" cũng đành, phải không anh, phải không em?

Chân lý thuộc về mọi người, không chịu sống đời nhỏ nhoi

Xin hát về bạn bè tôi, những người sống vì mọi người,

ngày đêm canh giữ đất trời, rạng rỡ như rừng mai nở... chiều xuân!